Người làm chính trị liệu có đủ sức quản lý tài sản 5 triệu tỷ đồng?

(Canhosunwahpearl.edu.vn) TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên Đại học Fulbright Việt Nam, vừa có cuộc trò chuyện có mục “Góc nhìn chuyên gia” của Canhosunwahpearl.edu.vn xung quanh chọn lọc thành lập Uỷ ban quản lý vốn Nhà nước ở doanh nghiệp Nhà nước (DNNN).

TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn cho rằng việc ra đời của “siêu uỷ ban” này chỉ là một sốh thức tốt thứ nhì, tốt nhất chính là cổ phần hoá và băn khoăn về người đứng đầu uỷ ban lại là 1 người xưa nay làm chính trị.

“Siêu Uỷ ban” chỉ là một sốh thức tốt thứ nhì

Ông phân tách như thế nào về sự ra đời của Ủy ban quản lý vốn Nhà nước ở một số DNNN trong bối cảnh giai đoạn này, khi Chính phủ đang đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn Nhà nước ở một số DN?

Tôi cho rằng sự ra đời của Ủy ban quản lý vốn nhà nước ở một số DNNN chỉ là chọn lọc tốt nhất thứ nhì. Bởi chọn lọc tốt nhất là cần phải cổ phần hóa một số DNNN đó. Nhà nước không có nguyên do lý thuyết hay thực tiễn nào để nắm giữ một số DNNN. Song sự do dự, dùng dằng lợi ích và mong muốn níu kéo một số đặc quyền khiến công đoạn cổ phần hóa luôn bị chậm trễ.

nguoi lam chinh tri lieu co du suc quan ly tai san 5 trieu ty dong? hinh anh 1

TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên Đại học Fulbright Việt Nam (Ảnh: Quốc Hải)

Chúng ta cần nhìn nhận thực ở, tình hình quản lý vốn và tài sản trong một số DNNN đang gặp nhều trục trặc, không hiệu quả. Tổng tài sản của một số DNNN giai đoạn này dao động 5 triệu tỷ đồng, con số này tương đương có mức dư nợ trong nền kinh tế Việt Nam.

Trong khi đó, 5 triệu tỷ đồng dư nợ trong nền kinh tế tính ra dao động 135% GDP có 1 phần là khu vực Nhà nước và 1 phần vào khu vực tư nhân. Giả sử, 5 triệu tỷ đồng của DNNN được phân bổ cho khu vực tư nhân quản lý và sử dụng sẽ là 1 nguồn lực lớn cho quốc gia.

Gần đó, khi Chính phủ liên tục thúc ép, việc cổ phần hóa đã có kết quả bước đầu. Điển hình là trường hợp của Sabeco, Vinamilk, Bình Sơn… và 1 loạt DNNN dự tính cổ phần hóa hoặc tiếp tục thoái vốn.

Nếu chúng ta làm việc này thực sự tốt, sự ra đời của Ủy ban sẽ là không cần thiết. Nhưng vì sự dùng dằng lợi ích, chúng ta vẫn cần tới Ủy ban như chọn lọc tốt nhất thứ nhì.

Vậy sự ra đời của Ủy ban quản lý vốn Nhà nước ở DN có bóc tách được công dụng quản lý và công dụng có, quản lý DN ở một số DNNN?

Có 1 thực ở, DNNN hiện đang tồn ở 3 trong 1 công dụng: đại diện có, quản lý nhà nước, quản nguyên doanh nghiệp. Ba công dụng này cộng nằm trong 1 DNNN nhưng mâu thuẫn có nhau, dẫn tới hiện trạng khuyến khích độc quyền, từ đó nuôi dưỡng yếu kém.

Về công dụng đại diện có, Nhà nước đại diện có trong DNNN, có địa điểm đại diện có của Nhà nước như Chủ tịch HĐQT, thành viên HĐQT. Thậm chí, Tổng giám đốc tập đoàn cũng do Nhà nước bổ nhiệm. Như vậy Nhà nước vừa nắm quyền có, vừa trực tiếp điều hành DN.

Ngoài ra, DNNN trực thuộc một số Bộ, ngành trong khi Bộ, ngành lại thực hiện công dụng quản lý Nhà nước trong ngành, lĩnh vực được giao. Như vậy, dẫn tới mâu thuẫn là một số DN này biến quy hoạch phát triển ngành thành chiến lược phát triển của DN.

Ví dụ, Bộ Công Thương phải hoạch định chính sách phân phối hàng cho 1 ngành cụ thể là điện hay lọc hóa dầu… Song có vai trò của DNNN trong ngành do Bộ trực tiếp có và quản lý sẽ dẫn tới việc Bộ quy hoạch phát triển cho riêng DN của Bộ chứ không phải cho toàn ngành.

Khi thi công chính sách phân phối hàng cho ngành điện, lọc hóa dầu… Thường là chính sách phân phối hàng do một số DNNN soạn, hoặc có vai trò chọn lọc của họ. Khi để cho một số DNNN soạn thảo, trình Bộ chủ quản, đảm bảo họ sẽ đưa vào đó các lợi ích của họ. Chính sách sau đó sẽ được trình lên Chính phủ, Chính phủ phê duyệt xong quay về thực hiện lại giao cho một số tập đoàn, DNNN thực thi. Đó là mâu thuẫn.

Khi chúng ta quy hoạch chiến lược phát triển của 1 ngành thì kèm theo đó là huy động và phân bổ nguồn lực. Khi chiến lược phát triển ngành trở thành chiến lược phát triển của 1 DNNN thì đa số nguồn lực sẽ được giành cho DNNN đó. Điều này vô hình chung sẽ đẩy một số DN tư nhân ra ngoài lề của một số chiến lược phát triển đó.

Đây là nguyên do lớn nhất để Chính phủ thành lập Ủy ban quản lý vốn nhà nước ở một số doanh nghiệp. Các DNNN đang nằm dưới sự quản lý của một số Bộ, ngành sẽ thu về 1 đầu mối quản lý là Ủy ban. Ủy ban sẽ bóc, tách công dụng quản lý Nhà nước và công dụng có, quản lý DNNN.

“Sự ra đời của Ủy ban không hoàn toàn xóa bỏ sự trục trặc lớn nhất mà chúng ta đã nhận diện là trục trặc 3 trong 1. Một nhánh trong đó bị làm mờ đi, còn 2 nhánh còn lại vẫn đã đi vào làm việc”, TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn.

Song tôi cho rằng sự ra đời của Ủy ban vẫn không giải quyết tận gốc vấn đề bởi cuối cộng Nhà nước vẫn có DNNN. Thay vì thuộc Bộ quản lý thì giờ là “Siêu ủy ban”, hiện trạng 3 trong 1 chuyển thành 2 trong 1, vẫn duy trì công dụng có Nhà nước và quản trị DN.

Ngoài ra, vẫn còn 1 công dụng mờ khác là quản lý ngành. Vì trong đại diện của Ủy ban vẫn còn đại diện của một số Bộ, ngành trong đó.

Một vấn đề là chúng ta chưa nhận diện vị thế pháp lý của Ủy ban. Nó sẽ là 1 cơ quan ngang Bộ hay nằm dưới Bộ? Nếu Ủy ban nằm dưới Bộ, thì Bộ khác có thể tác động lên nó. Ngược lại, nếu Ủy ban là 1 cơ quan ngang Bộ, nghĩa là chúng ta lại “đẻ” thêm 1 Bộ khác trong khi đang cần tinh giản biên chế. Ngoài ra, Ủy ban chẳng thể nằm trên Bộ được bởi không 1 thể chế nào cho phép bởi thế.

Một một sốh khác là chuyển bớt một số Cục, Vụ có công dụng quản lý vốn, tài sản ở DNNN sang Ủy ban. Nhưng làm bởi thế thì vẫn là con người cũ, bộ máy cũ, tư duy cũ. Vậy hiệu quả của cơ quan này khi đó sẽ như thế nào?

Nói bởi thế, việc ra đời siêu uỷ ban quản lý vốn Nhà nước, nếu muốn không tăng thêm biên chế sẽ phải điều chuyển 1 số người của một số cục vụ liên quan ở 1 số bộ ngành về. Như vậy vẫn là tư duy cũ, và khó tránh khỏi hiện trạng “bình mới, rượu cũ”. Ông nghĩ thế nào?

Về cơ cấu tổ chức, vẫn tồn ở đại diện của một số Bộ trong Ủy ban. Tức là chúng ta chưa xóa bỏ được lợi ích của Bộ, ngành vì đại diện Bộ, ngành trong Ủy ban phải đại diện cho lợi ích của họ.

Chúng ta vừa muốn một số DNNN thoát ly khỏi một số Bộ, ngành nhưng vẫn muốn níu vai trò quản lý ngành của một số Bộ trong Ủy ban. Đó là sự mâu thuẫn. Rõ ràng chúng ta không dứt khoát.

Nếu chúng ta muốn loại bỏ trục trặc 3 trong 1 nêu trên thì không nên có đại diện của Bộ, ngành trong Ủy ban. Muốn thoát ly cần con người mới, bộ máy mới, tư duy mới và trách nhiệm độc lập.

nguoi lam chinh tri lieu co du suc quan ly tai san 5 trieu ty dong? hinh anh 2

12 dự án thua lỗ của Bộ Công thương (Ảnh: TTX)

Vấn đề ở đó là phải tìm con người mới bởi đại diện Bộ, ngành trong Ủy ban dễ dẫn tới va chạm lợi ích, chẳng thể thống nhất để đưa ra bất kỳ chọn lọc nào. Không có con người mới có tư duy đột phá thực sự, thì thực chất câu chuyện lập siêu uỷ ban chỉ là “bình mới, rượu cũ” thôi. “Bình mới” là 1 Ủy ban, nhưng “rượu cũ” là các con người trong bộ máy cũ đó.

Chúng ta chưa có cơ chế sử dụng người tài ngoại khu. Còn người cũ thì chúng ta chưa chắc đã tìm được 1 người đủ năng lực. Đó là 1 sự trục trặc khác.

“Bây giờ một số DN cổ phần hóa chuyển sang cho người mới, công việc nặng nề, tồn đọng, rồi họ sợ trách nhiệm. Phải tham khảo, rà soát quá trình cổ phần hóa để tránh sai sót. Như vậy là làm chậm quá trình cổ phần hóa.

Phải xử lý dứt điểm một số DN, dự án thua lỗ, kém hiệu quả. Nhưng việc xử lý nằm ở một số Bộ, ngành. Giờ đưa một số DNNN về “siêu ủy ban”, nhưng Ủy ban đâu thể làm thay vai trò của một số Bộ, ngành.

Phải rất cẩn thận, sinh ra 1 bộ máy thì dễ, nhưng khi bộ máy làm việc không hiệu quả hay kết thúc sứ mệnh của nó, rất khó để giải tán nó. Thậm chí, còn phải nghĩ tới việc xử lý nhân sự ở đó như thế nào?”, TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn

Có 1 điều dư luận băn khoăn đó là các sai phạm ở một số DNNN, 12 dự án thua lỗ đang đắp chiếu trị giá hàng chục nghìn tỷ đồng. Nếu chuyển sang Uỷ ban thì sẽ xử lý thế nào?

Đúng là có 1 điều đáng lo, đó là dễ xảy ra hiện trạng “Cha chung không ai khóc”. Để DNNN ở một số Bộ, ngành dễ có trục trặc, nhưng đã ràng buộc trách nhiệm rõ ràng, sẽ dễ hơn. Đơn giản như 12 dự án nghìn tỷ thua lỗ của Bộ Công Thương, Bộ này phải chịu trách nhiệm.

Nhưng bây giờ các dự án đầu tư yếu kém đó, sau khi đưa về Ủy ban vẫn yếu kém thì quy trách nhiệm cho ai? Giờ là 1 Ủy ban có rất nhiều thành viên trong đó, Bộ Công Thương có thể cho rằng đó không còn là trách nhiệm của riêng Bộ, mà là của cả tập thể. Đó là trục trặc có thể nảy sinh.

Bên cạnh đó, chúng ta cũng thiếu hành lang pháp lý cho Ủy ban làm việc. Quy chế, tổ chức, xác lập trách nhiệm, quyền hạn của Ủy ban và một sốh thành viên, chức danh nội khu Ủy ban, quan hệ của Ủy ban có một số Bộ, ngành… chúng ta đều thiếu. Trong quá trình đã đi vào làm việc khuôn khổ pháp lý, dễ dẫn tới dùng dằng lợi ích.

Ai có đủ năng lực quản lý khối tài sản 5 triệu tỷ đồng?

Ông phân tách thế nào về khả năng quản lý vốn Nhà nước ở DNNN của Uỷ ban?

Mục tiêu, tầm nhìn, nhiệm vụ cho Ủy ban cũng chưa rõ ràng. Chúng ta gọi là Ủy ban quản lý, nhưng nội hàm của từ “quản lý” là gì?

Nếu là Cục Quản lý Công sản, hay dễ làm hơn là 1 người thủ kho có nhiệm vụ cân, đo, kiểm, đếm tài sản trong kho thì rất dễ làm. Nhưng trách nhiệm quản lý của Ủy ban là bảo toàn vốn và tài sản hay tối đa hóa giá trị tài sản, hoặc quản lý cổ phần hóa?

SCIC đã không thành công vì không xác định được mục tiêu rõ ràng. Vậy nội hàm của từ “quản lý” ở đó là gì?

Nếu là bảo toàn vốn và tài sản thì chỉ cần tìm ngân hàng để bỏ vốn, tài sản vào đó. Còn tối đa hóa giá trị tài sản thì Sabeco, Vinamilk đang sinh lời, ở sao phải cổ phần hóa các DN này? Thậm chí, còn phải tìm mua thêm các doanh nghiệp, cổ phiếu tăng trưởng tốt nữa. Chắc chắc, Ủy ban chẳng thể làm các việc đó được.

nguoi lam chinh tri lieu co du suc quan ly tai san 5 trieu ty dong? hinh anh 3

12 dự án thua lỗ của Bộ Công thương (Ảnh; TTX)

Nội hàm của từ “quản lý” ở đó rất quan trọng. Nếu lặng lẽ làm có mục tiêu không để thất thoát tài sản, không bị đi tù còn hiệu quả thì chưa chắc. Còn nếu làm tối đa hóa giá trị tài sản thì thoái vốn không phải mục tiêu. Vậy thì mục tiêu ở đó là gì?

Trong khi 1 số người cho rằng phải khiến cho DN nhỏ lại để dễ quản lý nhưng nhỏ lại không hiệu quả. Nhỏ lại khi DN cổ phần hóa, phân phối bớt vốn ra phân khúc. Nhưng chỉ có thể cổ phần hóa được một số DN tốt, sao có thể phân phối hàng kém chất lượng được. Phải phân phối hàng có chất lượng thì cuối cộng lại là quản lý ngược. Chúng ta giữ các DN yếu kém ở lại, đẩy các DN tốt đi thì mục tiêu của chúng ta là gì?

Với tổng tài sản của DNNN mà siêu uỷ ban này sẽ quản lý là 5 triệu tỷ đồng, đó là khối tài sản có diện tích lớn. Vậy ai sẽ đủ năng lực để quản lý hiệu quả số vốn này? Liệu có quá sức có người đứng đầu uỷ ban giai đoạn này?

5 triệu tỷ đồng là 1 lượng tài sản quá lớn. Đó là sự thách thức về năng lực quản trị đối có Ủy ban. Việt Nam liệu đã có nhà quản trị nào đủ sức quản lý lượng tài sản này 1 một sốh hiệu quả?

Hơn nữa, số vốn này đâu chỉ tập trung trong 1 ngành, chúng nằm ở rất nhiều lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, dầu khí, diện lực… Liệu người đứng đầu có đủ hiểu biết và năng lực chuyên môn để quản lý không? Đó mới là vấn đề.

Ở Việt Nam, không tính khu vực Nhà nước, để tìm được 1 người hoàn hảo đủ sức quản trị 1 doanh nghiệp đã là khó. Ngay cả các tỷ phú giàu nhất Việt Nam cũng chỉ quản lý lượng tài sản bằng 1/10, 1/15 con số khổng lổ nêu trên đã gặp vấn đề rồi.

Giờ giao cho 1 người xưa nay làm công tác lãnh đạo chính trị sang quản lý 5 triệu tỷ đồng tài sản liệu có đủ sức quản lý không?

Trước đẩy trách nhiệm quản lý thuộc riêng từng Bộ. Bộ Công Thương mới chỉ quản lý 1 phần của con số 5 triệu tỷ đồng này còn chưa làm hiệu quả. Giờ gom cả tài sản của một số Bộ khác, cả SCIC về thì làm sao có thể quản lý nổi?

“Một vấn đề nữa là quản trị DN và trách nhiệm giải trình. Cần tuyển 1 người có năng lực kỹ trị, am hiểu về kinh tế phân khúc, chiến lược DN, quản trị DN. Điều này hệ thống của chúng ta chưa làm được. Góc nhìn của người làm chính trị khác có người làm kinh doanh”, TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn.

Một vấn đề tôi quan tâm là cơ chế, chính sách phân phối hàng, chế độ lương bổng, thưởng vẫn theo chế độ Nhà nước. Với địa điểm lãnh đạo cao cấp, tôi nghĩ sẽ có chế độ lương bổng thưởng theo cơ chế phân khúc có mục đích khuyến khích.

Nhưng bộ máy thừa hành phía dưới cũng rất quan trọng, phải có chế độ khuyến khích. Nếu ứng dụng hệ thống lương bổng của Nhà nước thì không ổn. Còn nếu theo chế độ lương bổng, thưởng như một số DN tư nhân thì phải tính trên hiệu quả làm việc.

Vậy mục tiêu, hiệu quả của Ủy ban là gì? Phía trên tôi đã đánh giá là chúng chưa rõ ràng. DN nếu làm việc có lợi nhuận sẽ thưởng nhằm khuyến khích giám đốc điều hành, nhân viên có về thật nhiều lợi nhuận. Nhưng lợi nhuận tài chính rất dễ hạch toán, còn “siêu ủy ban” có rất nhiều DN, có DN có về hiệu quả tài chính, có DN có về hiệu quả xã hội. Vậy phải lượng hóa thành tiền như thế nào để tính lương bổng?

Sứ mệnh của “siêu Uỷ ban” nên tồn ở trong bao lâu?

Vậy Chính phủ nên có các một sốh thức gì để đạt được mục tiêu quản lý vốn Nhà nước hiệu quả?

Thứ nhất, chúng ta phải tư duy lại 1 một sốh mạch lạc vai trò của kinh tế Nhà nước, DNNN. Chừng nào vẫn giữ tư duy kinh tế Nhà nước là chủ đạo, DNNN là đầu tàu thì không một sốh này lại bằng một sốh khác, chúng ta vẫn sẽ bơm tiền, nguồn lực, giành ưu đãi cho nó.

Phải xóa bỏ tư duy xem DNNN là công cụ quản lý vĩ mô, công cụ quản lý vĩ mô vì nó không thích hợp có nhận thức về kinh tế phân khúc. Công cụ quản lý kinh tế vĩ mô là chính sách phân phối hàng tài khóa, tiền tệ, ngoại thương, cơ cấu… DNNN chỉ là 1 thực thể kinh tế. Do vậy, nó chịu ảnh hưởng bởi một sốh chính sách phân phối hàng điều tiết vĩ mô chứ chẳng thể là công cụ điều tiết vĩ mô.

Muốn ổn định giá cả phải dựa vào chính sách phân phối hàng tài khóa, điều tiết cung tiền thích hợp có lượng cầu chứ chẳng thể đề nghị DNNN ổn định giá cả qua việc phân phối hàng bình ổn giá. Như vậy là phá bỏ vai trò của chính sách phân phối hàng tài khóa, tiền tệ.

Kinh tế Nhà nước chỉ nên thực hiện các gì tư nhân không muốn làm, chẳng thể làm, không được phép làm thay phân khúc, không được phép làm các gì kinh tế tư nhân có thể làm và muốn làm.

Trong Quyết định 58 của Chính phủ về tiêu chí phân loại DNNN sẽ thấy rất nhiều DNNN mà chúng ta không tìm thấy lí do, cơ sở gì để duy trì vai trò có của Nhà nước cả. Việc chuyển DNNN từ Bộ sang Ủy ban khác nào chuyển từ tay phải sang tay trái, vẫn nằm trong tay của Nhà nước.

Thứ hai, sau tư duy mạch lạc, phải đẩy nhanh cổ phần hóa, thoái vốn. Đó là một sốh thức tốt nhất, đi đến cộng của cải một sốh. Phải giải phóng nguồn lực khỏi bàn tay Nhà nước, để bàn tay phân khúc làm. Phải đẩy nhanh cổ phần hóa, chẳng thể vì khó làm mà đưa qua Ủy ban.

“Nếu lập ra Ủy ban, phải xác lập quyền hạn, trách nhiệm, trách nhiệm giải trình. Trước khi trao quyền, phải kiểm soát quyền. Khi đưa ra 1 quy định, nghĩa là đang trao quyền cho 1, hoặc 1 nhóm người có trách nhiệm thực thi quy định đó. Vậy nên trao quyền cũng đồng thời phải giao trách nhiệm giải trình.

Một DNNN làm ăn kém hiệu quả, người được trao quyền phải có trách nhiệm giải trình trước ai. Trước đó thuộc Bộ Công Thương thì Bộ Công Thương chịu trách nhiệm, giờ nếu về Ủy ban thì ai là người chịu trách nhiệm? Và giải trình trách nhiệm trước Chính phủ, Quốc hội hay ai?”, TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn.

Bởi giải trình trách nhiệm trước ai nghĩa là đại diện lợi ích cho đối tượng đó. Trong trường hợp của Ủy ban, khi phải giải trình trách nhiệm trước Chính phủ nghĩa là họ nhân danh lợi ích của Chính phủ, khi này trục trặc 3 trong 1 vẫn tồn ở.

Thứ ba, phải độc lập khỏi một sốh vấn đề chính trị. Ở Singapore, Công ty Temasek kinh doanh vốn và tài sản của Nhà nước rất thành công vì làm được điều này. Công ty này chịu trách nhiệm giải trình độc lập, chỉ chịu áp lực về vốn và hiệu quả kinh doanh.

Song điều này rất khó vì Chủ tịch Ủy ban là 1 Ủy viên Trung ương, khó mà độc lập khỏi vấn đề chính trị.

Thứ tư, phải xác định mục tiêu rõ ràng là bảo toàn giá trị tài sản, tối đa hóa giá trị tài sản, thúc đẩy cổ phần hóa hay xử lý dự án yếu kém.

Thứ năm, thi công cơ chế khuyến khích thích hợp, lấy hiệu quả làm thước đó. Đồng thời, gắn có trách nhiệm giải trình của bộ máy quản trị.

Thứ sáu, nâng cao năng lực kỹ trị của lãnh đạo, ứng dụng chuẩn mực quản trị DN tân tiến.

Thứ bảy, phải có tranh giành. Đây là chất xúc tác có lại hiệu quả. Điển hình là trường hợp tranh giành trên phân khúc viễn thông giữa Viettel, MobiFone, VinaPhone. Việc lập 1 Ủy ban tập trung sẽ khó có lại sự tranh giành.

Ông nghĩ sao khi công dụng của SCIC và Uỷ ban quản lý vốn khá tương đồng nhau. Vậy có nên hay không sự tồn ở của SCIC và sứ mệnh của Uỷ ban quản lý vốn nên kéo dài bao lâu?

SCIC là 1 doanh nghiệp kinh doanh vốn và tài sản Nhà nước, Ủy ban có thể quản lý làm việc của SCIC. Bản thân SCIC đã gặp khá nhiều vấn đề, khi thuộc quản lý của Ủy ban, trách nhiệm sẽ được đẩy về cho đơn vị này. Nó sẽ làm giảm vai trò độc lập, sự năng động của SCIC đi.

Khi SCIC về đó, công dụng của doanh nghiệp có một sốh tân không cũng là 1 vấn đề. Nếu giữ nguyên công dụng giai đoạn này, họ cũng không cần thiết phải về ủy ban.

Quản lý nghiêm ngặt vốn và tài sản Nhà nước ở một số DN là cần thiết. Nhưng trong xu hướng hội nhập chung, chúng ta đang đề cao vai trò của khu vực kinh tế tư nhân. Vậy Ủy ban quản lý vốn Nhà nước ở DN nên làm việc theo hình thức nào và chúng ta nên duy trì Ủy ban trong bao lâu?

Nhiều ý kiến nhận định, khi một số DNNN vốn thuộc quản lý của Bộ chủ quản được chuyển về Ủy ban, lợi ích nhóm của một số Bộ sẽ bị tước đi. Ông có lo lắng một số bộ ngành sẽ gây gặp khó trong quá trình chuyển đổi không?

Chắc chắn là có. Quá trình chuyển đổi sẽ có sự dùng dằng, muốn níu giữ lợi ích.

Trong quá trình bàn giao, các DNNN yếu kém thuộc Bộ quản lý dễ bị cắt lại để tránh đùn đẩy trách nhiệm cho Ủy ban. Nhưng Bộ lại muốn đẩy các DN này đi để tránh chịu trách nhiệm có một số DN này.

Còn về lợi ích, một số Bộ sẽ không tiện dụng buông. Họ sẽ tìm một sốh duy trì lợi ích của họ.

Xin cám ơn ông!

Tìm hiểu thêm tài liệu dự án canhosunwahpearl.edu.vn

0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *