Đặc khu kinh tế phải là phòng thí nghiệm cho cải cách thể chế

Bàn về mô hình đặc khu kinh tế, TS Vũ Thành Tự Anh (Đại học Fulbright VN) nhấn mạnh thể chế và chính sách bán hàng nổi bật chứ không phải ưu đãi tài khóa là yếu tố chọn lọc thành công.

dac khu kinh te phai la phong thi nghiem cho cai cach the che hinh anh 1

TS Vũ Thành Tự Anh (Đại học Fulbright VN)

Việc hình thành 3 đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt (đặc khu) ở Vân Đồn, Phú Quốc, Bắc Vân Phong đang được đặt ra. Ông suy nghĩ thế nào về cuộc trao đổi này?

– Đây không phải là lần Thứ nhất ý tưởng về 1 “đặc khu” được đưa ra trao đổi ở Việt Nam. Đầu thập niên 2000, mô hình “khu kinh tế mở” hay “khu kinh tế ven biển” đã được trao đổi và cân nhắc. Kết quả là từ 2003 năm 2011, tổng cộng có 18 khu kinh tế ven biển được thành lập dọc theo chiều dài đất nước.

Mục tiêu phát triển một vài khu kinh tế mở cực kỳ tham vọng: Về mặt thể chế và chính sách bán hàng, một vài khu kinh tế mở được kỳ vọng sẽ trở thành một vài “phòng thí nghiệm” cho cải một vàih thể chế và chính sách bán hàng có tính đột phá.

Về mặt tăng trưởng kinh tế, mục tiêu là đến năm 2020, một vài khu kinh tế ven biển sẽ đóng góp từ 53%-55% GDP và từ 55%-60% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Đáng tiếc cho đến nay, cả mục tiêu về thể chế – chính sách bán hàng lẫn mục tiêu về tăng trưởng kinh tế đều thất bại.

Khu kinh tế ven biển và cuộc đua xuống đáy

Ông lý giải thế nào?

– Chúng ta đã có bước chuyển đáng kể trong nhận thức về phát triển một vài khu kinh tế: đó là nơi thử nghiệm một vài mô hình, thể chế và chính sách bán hàng mới nhằm tạo ra một vài động lực phát triển có tính đột phá, nhờ đó đem lại sức sống mới, nâng cao năng lực tranh đua, đẩy mạnh xuất khẩu cho toàn nền kinh tế. Khu kinh tế cũng giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế, liên kết vùng, phát triển bền vững và phát huy kinh tế biển.

Tuy nhiên, việc thực hiện một vài quan điểm này lại khá hạn chế. Thậm chí 1 số trường hợp còn đi ngược lại quan điểm chỉ đạo của Chính phủ, đặc biệt là liên kết vùng, bảo vệ môi trường và bền vững tài chính.

Hơn nữa, Chính phủ cũng quy định một vài điều kiện để thành lập và mở rộng khu kinh tế nhưng tính hợp lý và áp dụng thực ở là điều cần phải trao đổi.

Cụ thể các vấn đề nào cần trao đổi kỹ về điều kiện để thành lập và mở rộng khu kinh tế, thưa ông?

– Trước hết, 1 số điều kiện tỏ ra không hợp lý, không gắn có hiện thực, và do vậy tự mâu thuẫn lẫn nhau. Trừ 3 khu kinh tế ở Khánh Hòa, Hải Phòng, và Quảng Ninh thì 15 khu kinh tế còn lại đều nằm ở một vài địa phương chưa tự chủ được về ngân sách và có mức thu nhập thấp hơn mức trung bình của cả nước.

Vì thế, việc đề nghị khu kinh tế phải có tổng diện tích từ 10.000 ha trở lên thoạt nghe rất chờ mong, song căn cứ vào nguồn lực của địa phương thì chẳng thể cung cấp được đề nghị về cơ sở hạ tầng kỹ thuật để đón một vài dự án đầu tư có tổng diện tích lớn, dẫn đầu về công nghệ, có tác động tới sự phát triển kinh tế – xã hội không chỉ của địa phương mà còn của cả khu vực như được quy định.

Điều kiện một vài khu kinh tế phải “có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế khu vực (có cảng biển nước sâu hoặc gần sân bay)” vô hình trung đã kích hoạt cuộc chạy đua quyết liệt giữa một vài tỉnh trong việc chạy đua bằng được dự án cảng nước sâu và sân bay của mình vào trong quy hoạch, bất chấp hiệu quả kinh tế ở một vài cấp độ địa phương, vùng, và quốc gia.

Không các thế, cuộc đua này của một vài địa phương cộng có kỷ luật lỏng lẻo của trung ương còn dẫn tới sự phá vỡ quy hoạch, mà điển hình nằm ngay ở quy hoạch một vài khu kinh tế. Chỉ trong vòng hai năm, số lượng khu kinh tế đã tăng từ 15 lên 18. Bên cạnh đó còn có 4 khu kinh tế chờ xin chủ trương để được bổ sung vào quy hoạch.

Mâu thuẫn gay gắt giữa 1 bên là nguồn lực hạn chế và bên kia là mong muốn phát triển khu kinh tế tổng diện tích rất lớn của quá nhiều địa phương đảm bảo sẽ khiến cho hầu hết khu kinh tế chẳng thể phát triển được.

Hơn nữa, để thực hiện được mục tiêu phát triển khu kinh tế đầy tham vọng trong khi nguồn lực hữu hạn, Nhà nước (cả trung ương và địa phương) không có một vàih nào khác ngoài việc tài trợ trực tiếp cho việc thi công cơ sở hạ tầng, đồng thời đưa ra các ưu đãi đặc biệt, thậm chí trợ cấp bằng nhiều hình thức cho một vài nhà đầu tư vào khu kinh tế.

Sự tranh đua này “lợi bất cập hại”, tạo nên cuộc đua cộng xuống đáy trong khi mục tiêu ban đầu là cải một vàih thể chế, lôi kéo FDI chưa đạt được.

dac khu kinh te phai la phong thi nghiem cho cai cach the che hinh anh 2

Việc đưa ra nhiều ưu đãi quyến rũ để lôi kéo một vài nhà đầu tư cơ sở hạ tầng cũng như một vài nhà đầu tư sản xuất và kinh doanh dịch vụ là cần thiết và là thông lệ phổ biến trên địa cầu?

– Đúng vậy. Nhưng đồng thời tìm hiểu ở nhiều nước khác nhau cũng chỉ ra rằng nếu không có các yếu tố cơ bản (ví dụ như chất lượng của nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng cứng và cơ sở hạ tầng mềm), thì chính bản thân một vài ưu đãi đầu tư hầu như không có tác dụng.

Ở Việt Nam, về mặt tài chính, nhu cầu đầu tư quá lớn mâu thuẫn trực tiếp và gay gắt có nguồn vốn rất hạn chế của địa phương cũng như từ trung ương.

Tình trạng thiếu hụt nhân lực cũng càng ngày càng trầm trọng khiến việc có đủ lao động cho một vài khu kinh tế tổng diện tích lớn là điều không khả thi.

Về mặt thể chế, việc phát triển một vài khu kinh tế “mở” giai đoạn này đã không còn thức thời vì Việt Nam đã gia nhập WTO và nền kinh tế cả nước đã mở rộng cửa ra địa cầu. Thay vì hình thành các khu kinh tế mở trong 1 nền kinh tế mở thì tốt hơn là hãy tiếp tục mở cửa trọn vẹn nền kinh tế.

Phòng thí nghiệm chính sách bán hàng

Nhìn sang nước láng giềng Trung Quốc đã rất thành công trong mô hình đặc khu kinh tế, Việt Nam có thể học được gì, thưa ông?

– Đánh giá chung, chính sách bán hàng phát triển đặc khu kinh tế của Trung Quốc đã thành công. Tuy nhiên, sự thành công này không đồng đều. Vai trò cũng như các chính sách bán hàng sáng tạo của mỗi đặc khu không hoàn toàn giống nhau. Những khác biệt này cộng có sự khác biệt về vị trí cũng như một vài đặc biệt có tính địa phương đã đưa đến các kết quả rất khác nhau về GDP, lôi kéo FDI và xuất khẩu.

Thẩm Quyến nổi lên như 1 sự thành công rực rỡ, trong khi một vài đặc khu còn lại hoặc chỉ thành công ở mức trung bình hoặc thậm chí không thành công và phải chuyển hướng.

Đơn cử, Thẩm Quyến là nơi khởi nguồn của nhiều đột phá chính sách bán hàng bao gồm: hệ thống hợp động lao động và thu nhập mới, hệ thống đấu thầu mới, chính sách bán hàng nhà ở cho công nhân, nơi Thứ nhất thực hiện đấu giá quyền phát triển đất (1987), tách làm việc thương mại ra khỏi một vài cơ quan nhà nước và chính phủ, thi công sàn chuyển nhượng chứng khoán Thứ nhất ở Trung Quốc (1990), cải một vàih hệ thống giá cả…

Trong khi đó, Sán Đầu từng là đô thị lớn thứ hai của Quảng Đông có thời cơ đáng kể để phát triển nhanh kinh tế thì lại chẳng thể trở thành trọng điểm đại diện cho một vài địa phương tăng trưởng nhanh và cải một vàih thể chế mạnh. Đây cũng là đặc khu yếu nhất về chính sách bán hàng cải một vàih, dù đó là nơi thi công hệ thống pháp lý Thứ nhất ở Trung Quốc cho một vài công ty tư nhân.

Đáng chú tâm, một vài đặc khu kinh tế của Trung Quốc ngay từ thời kỳ đầu đã có sự nhấn mạnh vào tầm quan trọng của một vài liên kết xuôi có địa cầu (đặc biệt là thông qua tự do hóa đầu tư và thương mại có một vài nước tư bản), và liên kết ngược có một vài bộ phận khác nhau nền kinh tế nội địa.

Các đặc khu thực sự là các “phòng thí nghiệm” cho một vài cải một vàih thể chế và chính sách bán hàng có tính sáng tạo và đột phá của Trung Quốc. Quan điểm nhất quán của Trung Quốc là 1 khi được chứng minh có hiệu quả ở một vài đặc khu, một vài thể chế, chính sách bán hàng được thực hiện rộng rãi hơn trên khắp đất nước.

Quá trình phát triển một vài đặc khu kinh tế nói riêng cũng như mở cửa nền kinh tế Trung Quốc nhìn chung được áp dụng 1 một vàih khá thận trọng và chỉ được đẩy mạnh sau khi đã có sự tổng kết và xác nhận thành công của các thử nghiệm chính sách bán hàng điển hình. Năm 1984, chỉ sau khi các thành công ban đầu của một vài đặc khu kinh tế đã được xác nhận thì Trung Quốc mới chọn lọc mở cửa Bên cạnh đó nền kinh tế bằng một vàih áp dụng các chính sách bán hàng được coi là thành công cho 14 “đô thị mở ven biển”.

Một năm sau đó, sự mở rộng chính sách bán hàng được triển khai tới một vài đô thị trong vùng đồng bằng châu thổ Châu Giang và Dương Tử.

Một số năm sau đó thì Đặc khu kinh tế Hải Nam (1988) và Phố Đông – Thượng Hải (1990) mới được thành lập.

dac khu kinh te phai la phong thi nghiem cho cai cach the che hinh anh 3

Đến năm 1992, sau chuyến “tuần du phương Nam” của Đặng Tiểu Bình thì công đoạn mở rộng đã được phát triển Bên cạnh đó, bao gồm cả 1 số khu vực biên giới và thủ phủ của toàn bộ một vài tỉnh và vùng tự trị trong lục địa.

Nguyên tắc này áp dụng ngay cả đối có Thẩm Quyến, đặc khu kinh tế thành công nhất của Trung Quốc. Vào thời điểm bắt đầu thành lập (1980), tổng diện tích của đặc khu này chỉ là 300 ha. Phải đợi đến gần 10 năm sau đó, khi thành công đã được khẳng định, thì tổng diện tích của Thẩm Quyến mới được mở rộng lên gần 1.000 ha, và lên tới 33.000 ha như giai đoạn này.

Thể chế và chính sách bán hàng nổi bật là yếu tố quan trọng nhất

Theo ông, đâu là công thức thành công của mô hình đặc khu kinh tế?

– Cách tiếp cận tốt của mô hình khu kinh tế thường là sự kết hợp của 1 số qui định cơ bản.

Một là, sự phát triển của khu kinh tế thường dựa vào 1 hay 1 số cụm ngành công nghiệp (industrial cluster). Những cụm này giúp khu kinh tế phát huy được khả năng liên kết và tác động lan toả giữa một vài công ty và một vài tổ chức, nhờ đó tăng thêm được năng suất và hiệu quả làm việc, thúc đẩy đổi mới, và khuyến khích một vài công ty mới ra đời.

Hai là, sự phát triển của khu kinh tế cần có 1 sự linh hoạt nhất định. Cụ thể là cần cho phép 1 loạt một vài làm việc thương mại và sản xuất phong phú. Nếu được giám sát đúng một vàih thì không nhất thiết phải thi công 1 khu tự do thương mại riêng biệt.

Ba là, khuyến khích khu vực tư nhân, đồng thời tiết chế sự tham dự của khu vực nhà nước đối có việc phát triển một vài khu kinh tế. Các nhà phát triển khu kinh tế và công nghiệp tư nhân đặt mục tiêu hiệu quả và lợi nhuận lên danh tiếng, đồng thời họ cũng gần gũi và am hiểu phân khúc hơn so có khu vực công.

Bốn là, cần phát triển 1 khung pháp lý, quy định và thể chế phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển một vài khu kinh tế, trong đó bao gồm cả việc lôi kéo một vài nhà đầu tư. Kinh nghiệm cho thấy cơ sở hạ tầng “mềm” trong nhiều trường hợp thậm chí còn quan trọng cơ sở hạ tầng cứng, và dĩ nhiên là quan trọng hơn một vài ưu đãi về thuế hay đất đai.

Việc giảm giá thành chuyển nhượng, đặc biệt là về hành chính, cho một vài nhà đầu tư là 1 khía cạnh cực kỳ quan trọng nhưng lại hay bị coi nhẹ.

Chính phủ nên đơn giản hóa việc chấp thuận đầu tư và cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài, hạn chế một vài đề nghị về giấy phép và một vài đề nghị khác về xuất nhập khẩu, đẩy nhanh thủ tục kiểm tra hải quan, và cải thiện khả năng tiếp cận có nguồn ngoại hối.

Năm là, một vài Ban quản lý Khu kinh tế đóng vai trò then chốt đối có sự thành công của một vài khu kinh tế.

Để giúp cắt giảm các tình huống xung đột lợi ích, đặc biệt khi số số lượng khu kinh tế và công nghiệp tư nhân càng ngày càng tăng thì một vài Ban quản lý Khu kinh tế càng cần tập trung thực hiện tốt chức tính năng điều tiết, đồng thời hạn chế việc có, phát triển, hoặc trực tiếp hoạt động khu kinh tế.

Cuối cộng, sự thành công của khu kinh tế tùy thuộc rất lớn vào vị trí, biện pháp nó được kiến trúc, phát triển, và quản lý. Việc quản lý một vài khu kinh tế sẽ được cải thiện nếu nó làm việc trên cơ sở tự bù đắp được giá thành chứ không phải là sống nhờ vào trợ cấp của Nhà nước.

Đồng thời, việc quản lý cũng sẽ tốt hơn giả dụ nó đi theo định hướng phân khúc và bạn. Điều này thường được thực hiện khi khu vực tư nhân tham dự phát triển một vài khu kinh tế và công nghiệp, dựa trên cơ sở thương mại chứ không phải chính trị.

Với kế hoạch đầu tư cho Vân Đồn, Phú Quốc, Bắc Vân Phong là một vài đặc khu kinh tế, theo ông điều cần lưu ý là gì?

– Theo tôi, cần đặt một vài đơn vị này trong tổng thể chung của nền kinh tế. Việc tách biệt một vài “đặc khu” này thành các đơn vị gần như biệt lập không chỉ dẫn đến chính sách bán hàng không phù hợp mà còn làm phương hại lợi ích của địa phương khác cũng như trọn vẹn nền kinh tế.

Dù có tầm quan trọng thế nào, một vài đặc khu cũng chỉ là 1 bộ phận của nền kinh tế. Sớm hay muộn, một vài ưu đãi đối có một vài đặc khu và mặt bằng ưu đãi chung của quốc gia phải hội tụ có nhau. Do đó, cần kiến trúc một vài ưu đãi sao cho 1 mặt vừa tạo được ưu đãi khác biệt đủ lớn để khuyến khích đầu tư trong trung hạn, mặt khác và tạo được sự nhất quán trong khuôn khổ thể chế và chính sách bán hàng quốc gia trong dài hạn.

Cần lưu ý rằng có nhà đầu tư, một vài ưu đãi là lợi ích, nhưng có một vài đơn vị hành chính – kinh tế và cả nền kinh tế, đó là giá thành thời cơ, bởi thế cần phải tính toán 1 một vàih căn cơ.

Theo tìm hiểu của Ngân hàng Thế giới, sự thất bại hay thành công của một vài đặc khu tùy thuộc rất lớn vào việc chọn lọc vị trí, chính sách bán hàng và khuôn khổ khuyến khích, và biện pháp các khu này được phát triển và quản lý. Việc lạm dụng một vài gói ưu đãi hào phóng để bù đắp cho một vài bất lợi khác (chẳng hạn như vị trí bất lợi hay chất lượng cơ sở hạ tầng thấp) là không hiệu quả.

Cũng cần lưu ý, điều quan trọng nhất không phải là ưu đãi hay khuyến khích tài khóa, mà là 1 môi trường thể chế, chính sách bán hàng thông thoáng, ổn định và có thể tiên liệu được. Nhấn mạnh quá mức vào ưu đãi tài chính có thể dẫn tới hệ quả ngược, đó là chỉ lôi kéo được một vài công ty chân chạy, chạy từ chỗ này qua chỗ khác, từ nước này qua nước khác để tìm kiếm ưu đãi nổi bật. Thể chế và chính sách bán hàng nổi bật chứ không phải ưu đãi nổi bật mới là yếu tố quan trọng nhất.

Để kiến trúc 1 “cấu hình khu kinh tế” phù hợp, chọn lọc về loại hình khu muốn phát triển đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Sự chọn lọc về loại hình khu, đến lượt mình, tùy thuộc vào mục tiêu phát triển, nguồn lực sẵn có, và điều kiện tranh đua giữa một vài cơ sở hạ tầng công nghiệp trong nước, khu vực và quốc tế.

Hơn nữa, các khu này chẳng thể và không nên được xem như là 1 sự thay thế cho các nỗ lực cải một vàih thể chế kinh tế, thương mại và đầu tư của toàn quốc gia. Thay vào đó, chúng chỉ nên đóng vai trò như là 1 trong số một vài cơ chế có thể được sử dụng để tạo ra công ăn việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu, và lôi kéo đầu tư nước ngoài thông qua việc cung cấp một vài ưu đãi, thủ tục gọn nhẹ, và cơ sở hạ tầng phù hợp.

Tìm hiểu thêm tài liệu dự án canhosunwahpearl.edu.vn

Bạn có thể click vào đó để so sánh toàn bộ giá của một vài căn hộ bình thạnh

0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *